Categories

Kiến thức đồng hồ

NHỮNG THỜI ĐIỂM QUAN TRỌNG NHẤT LỊCH SỬ THẾ GIỚI ĐỒNG HỒ


Lịch sử thế giới đồng hồ trong thời gian qua đã xảy ra những sự kiện trọng đại nào? Thế giới đồng hồ bắt đầu từ đâu, tạo dựng bởi điều gì? Những thời điểm quan trọng gắn liền với các sáng tạo phát minh lớn nhất lịch sử đồng hồ sẽ được tiết lộ đầy đủ ngay sau đây.

NHỮNG THỜI ĐIỂM QUAN TRỌNG NHẤT LỊCH SỬ THẾ GIỚI ĐỒNG HỒ

Theo dòng thời gian, công cụ đo thời gian tức đồng hồ không ngừng phát triển và hoàn thiện. Ngay sau đây, bạn đã có thể biết được lịch sử thế giới đồng hồ đã chứng kiến thời điểm mà các phát minh và những bậc thầy đồng hồ làm thay đổi cả nhân loại.

 LỊCH SỬ THẾ GIỚI ĐỒNG HỒ TRƯỚC CÔNG NGUYÊN

3500 năm trước Công Nguyên, đồng hồ mặt trời ra đời, xem giờ bằng cách xem bóng của cây gậy.

1400 năm trước Công Nguyên, người Ai Cập đã phát minh ra đồng hồ nước

 LỊCH SỬ THẾ GIỚI ĐỒNG HỒ SAU CÔNG NGUYÊN

725, nhà sư Nhất Hạnh (一行) người Trung Quốc đã phát minh ra một hỗn thiên nghi (dụng cụ đo thiên văn) dùng sức nước có thể cho biết thời gian. Cỗ máy này trông giống như một cái tháp, chia giờ theo giờ Trung Quốc và được xem là đồng hồ cơ khí đầu tiên trên thế giới.

1092, Tô Tụng (苏颂), một kỹ sư Trung Quốc cổ đại đã phát minh ra một hỗn thiên nghi (dụng cụ đo thiên văn) dùng sức nước tinh vi hơn của Nhất Hạnh. Cỗ máy này có thể hiển thị vị trí hiện tại của các hành tinh.

1364, thợ đồng hồ người Ý là Dondi đã tạo ra đồng hồ thiên văn cho các cung điện ở thị trấn Padua quê hương ông ở Italy.

1490, thợ đồng hồ Peter Hele người Đức đã phát minh ra dây cót đồng hồ đầu tiên.

1504, thợ đồng hồ Peter Hele người Đức đã phát minh ra chiếc đồng hồ cầm tay đầu tiên.

1581, nhà thiên văn học và vật lý học Galileo đã phát hiện ra các thuộc tính của con lắc.

1587, ngành công nghiệp đồng hồ bắt đầu tại Geneva.

1657, một nhà vật lý và cũng là bậc thầy đồng hồ người Hà Lan Huygens đã dùng con lắc để kiểm soát hoạt động đồng hồ.

1675, nhà phát minh vĩ đại hàng đầu lịch sử thế giới đồng hồ Huygens lại phát minh ra dây tóc phẳng tạo ra ra sự cân bằng trong một chiếc đồng hồ.

1704, Peter và Jacob Debaufre cùng với Nicolas Facio đã dùng hồng ngọc để giảm ma sát trong bộ máy đồng hồ, khái niệm chân kính ra đời.

1735, bậc thầy đồng hồ John Harrison chế tạo thành công đồng hồ hàng hải đầu tiên gọi là Marine Timekeeper H1 (loại đồng hồ có độ chính xác cao ngay cả khi liên tục di chuyển đến các vĩ độ, kinh độ khác nhau).

 1748, bậc thầy đồng hồ người Pháp, Pierre Le Roy đã phát minh ra hồi. Ông phát hiện ra “quy tắc của Pierre Le Roy”, đây là một quy tắc đẳng thời, theo quy tắc này thì bất kỳ dây tóc nào cũng chỉ có một độ dài nhất định để mang đến độ chính xác cao nhất.

1770, bậc thầy đồng hồ Abraham-Louis Perrelet phát minh ra cơ chế đếm bước chân (pedometer).

1780, bậc thầy đồng hồ Abranham-Louis Breguet đã phát minh ra đồng hồ tự động có hai bộ dây cót và một bánh đà bằng bạch kim.

1787, thợ đồng hồ Levi Hutchins đã phát minh ra đồng hồ báo thức cơ khí đầu tiên, chiếc đồng hồ này chỉ có thể reo lúc 4 giờ sáng.

1801, bậc thầy đồng hồ vĩ đại nhất thế giới Abraham Louis Breguet đã được cấp bằng sáng chế khi thành công tạo ra bộ máy đồng hồ có cơ chế Tourbillon giúp loại bỏ tác động xấu của trọng lực trái đất lên bánh lắc-lò xo để đồng hồ chính xác hơn.

1838, thợ đồng hồ Louis Audemars phát minh cơ chế lên dây cót và điều chỉnh chỉ với một núm chỉnh.

1868, hãng đồng hồ Patek Philippe làm ra chiếc đồng hồ đeo tay đầu tiên trên thế giới.

1871, kỹ sư Aaros Dennison của hãng International Watch Company (IWC) đã phát minh ra vỏ đồng hồ chịu nước đầu tiên.

1876, Seth E. Thomas được cấp bằng sáng chế cho chiếc đồng hồ báo thức cơ lên dây cót đầu tiên có thể thiết đặt thời gian reo bất cứ lúc nào.

1888, hãng đồng hồ Cartier sản xuất đồng hồ đeo tay cho phụ phụ nữ với kim cương và dây đeo tay vàng đầu tiên.

1902, chiếc đồng hồ đeo tay đầu tiên của hãng Omega ra đời.

1910, hãng Longines bắt đầu sản xuất đồng hồ đeo tay.

1914, hãng Eterna sản xuất đồng hồ đeo tay có khả năng báo thức đầu tiên.

1920, đồng hồ quartz đầu tiên được phát minh bởi Warren Marrison.

 1923, thợ đồng hồ John Harwood đã phát minh ra đồng hồ đeo tay tự động đầu tiên, chiếc đồng hồ này được sản xuất đại trà năm 1929.

1925, Patek Philippe chế tạo mẫu đồng hồ đeo tay có lịch vạn niên đầu tiên trên thế giới.

1927, chiếc đồng hồ đeo tay chống nước đầu tiên thế giới Rolex Oyster ra đời.

1930, Tissot đã giới thiệu chiếc đồng hồ đeo tay có thể chống từ đầu tiên trên thế giới.

1949, NIST (Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ) được xây dựng đồng hồ nguyên tử đầu tiên, được dựa trên amoniac (NH3).

1969, chiếc đồng hồ đeo tay siêu bền và ổn định Omega Speedmaster đã đổ bộ lên mặt trăng. Cũng trong năm này, chiếc đồng hồ quartz (pin) đầu tiên là Seiko Quartz Astron ra đời.

1970, thương hiệu con của Hamilton là Pulsar đã tạo ra chiếc đồng hồ đeo tay điện tử hiển thị kỹ thuật số bằng đèn LED đầu tiên trên thế giới.

1972, Longines và Seiko đồng loạt giới thiệu đồng hồ đeo tay điện tử hiển thị kỹ thuật số mới có màn hình LCD.

1977, bộ máy cơ với trái tim điện tử gọi là Spring Drive của Seiko ra đời năm 1977 bởi một kỹ sư làm việc tại nhà máy Suwa của SEIKO EPSON tại Nhật Bản.

1989, IWC thành công chế tạo ra đồng hồ có thể chịu được từ trường lên đến 500.000 A/m gọi là Ingeneur.

1999, NIST-F1, chiếc đồng hồ nguyên tử hoạt động dựa trên nguyên tố cesium (Cs) ra đời, sai số chỉ khoảng một giây mỗi 20 triệu năm.

--------------------------------------------------

-----------------------------------------------------------------

------------------------------------------------------------------------------

Lịch sử thương hiệu đồng hồ Seiko - Khiêm tốn và vụt sáng

Khởi đầu khiêm tốn nhưng thành tựu đạt được không hề khiêm tốn. Những nỗ lực và cố gắng thầm lặng đã đưa Seiko trở thành một trong những thương hiệu đồng hồ Nhật Bản nổi tiếng nhất hiện nay, trên toàn thế giới.

Seiko - thương hiệu đồng hồ nổi tiếng của Nhật Bản

Thương hiệu Seiko – sự khởi đầu khiêm tốn

Bắt nguồn từ quận Griza, Tokyo, Seiko tiền thân là một cửa hàng trang sức có tên K.Hattori &Co, Ltd do doanh nhân Kintaro Hattori sáng lập vào năm 1881. Đến năm 1892, hệ thống nhà máy sản xuất và sửa chữa đồng hồ Seikosha được ra đời, đây là một trong những nền móng của công ty sản xuất đồng hồ Seiko sau này. Những chiếc đồng hồ Seiko được biết đến với thiết kế nhỏ gọn và đơn giản.

Sự phát triển của ngành công nghệ sản xuất đồng hồ Nhật giai đoạn những năm cuối thế kỉ 19 vô cùng phát triển, Seiko cũng không đừng ngoài điều đó. Những năm 1890, doanh nghiệp đồng hồ treo tường Seikosha đạt được những thành công rực rỡ, điều này đã khiến Kintaro đã mở rộng phạm vi kinh doanh của mình. Năm 1895, công ty bổ sung đồng hồ bỏ túi, đồng hồ bấm giờ vào danh sách dòng sản phẩm của mình.

Năm 1913, công ty cho ra mắt những chiếc đồng hồ đeo tay đầu tiên mang tên Laurel. Những ngày, công ty chỉ sản xuất khoảng 30 – 50 chiếc đồng hồ/ngày bởi việc sản xuất đồng hồ đeo tay không phải việc dễ dàng với những linh kiện nhỏ và đòi hỏi sự tỉ mỉ cao, nhưng đây là bước tiến lớn đối với thương hiệu Seiko từ khi thành lập tới nay.

Thương hiệu Seiko chính thức được đăng ký và sử dụng vào năm 1924 tại thành phố Tokyo, Nhật Bản. Kể từ khi thành lập, định hướng của Seiko không chỉ ghi danh trong lĩnh vực đồng hồ điện tử mà thiết kế cũng là điều được Seiko chú trọng. Những chiếc đồng hồ Seiko luôn thời trang và thời thượng nhất.

Trong suốt thời gian sản xuất đồng hồ của mình Seiko Watch liên tục đưa ra những đồng hồ tuyệt vời với thiết kế sành điệu và cùng những tính năng hiệu quả đến với người dùng. Các đồng hồ của Seiko không chỉ mang lại sự phát triển trong thị trường đồng hồ mà còn để lại thách thức cho các đối thủ trên thị trường.

Năm 1959, Daiwa Kogyo Ldt được Seiko thành lập, sau này đổi tên thành Suwa Seikosha.

Năm 1960, Seiko giới thiếu mẫu đồng hồ Grand Seiko. Đây là mẫu đồng hồ với độ chính xác rất cao - vượt qua các hãng đồng hồ cao cấp Thụy Sĩ lúc đó và chiếc đồng hồ này đã ghi tên mình vào lịch sử đồng hồ thế giới, trở thành một huyền thoại về độ chính xác lúc bấy giờ.

Năm 1955 Seiko giới thiệu mẫu đồng hồ đeo tay tự động đầu tiên trên thị trường và phát triển đồng hồ điện tử vào năm 1958.

Những mốc son trong lịch sử phát triển thương hiệu đồng hồ Seiko

Năm 1968

Đây là thời điểm Seiko tạo nên một làn sóng mới trên thị trường đồng hồ thế giới với mẫu đồng hồ Quartz với Calibre 35. Cũng là năm Seiko vinh dự nhận giải thưởng đồng hồ đeo tay tốt nhất Chrometer.

Năm 1973 -1975

Tháng 10/1973, Seiko lại khiến cả thế giới kinh ngạc khi cho ra mắt chiếc đồng hồ điện tử với 6 chữ số hiển thị trên mặt tinh thể lỏng đầu tiên. Chiếc đồng hồ này có khả năng hiển thị thị giờ, phút và giây liên tục trên một hiệu ứng trường màn hình tinh thể lỏng LCD có tuổi thọ lâu dài (lên đến 50.000 giờ). Đặc biệt, với chỉ một đèn có thể cung cấp đủ ánh sáng để làm cho các con số trên màn hình hiển thị dễ đọc ngay cả trong bóng tối. Sự đặc biệt của chiếc đồng hồ đã thu hút sự chú ý rộng rãi của những người yêu đồng hồ trên toàn thế giới.  

Vào năm 1975, Seiko cho ra mắt đồng hồ World's First 0634 – đồng hồ thạch anh kỹ thuật số có thể ghi lại thời gian tới 1/10 của một giây và có một chức năng lặp lại vòng thời gian. Chiếc đồng hồ này cũng kết hợp ánh sáng bên trong, nên khách hàng có thể dễ dàng nhìn thấy ngay cả trong bóng tối. World's First 0634 đánh dấu tiềm năng lớn cho thị trường đồng hồ kỹ thuật số Nhật Bản.

Năm 1980

Công ty Jean Lassalle SA, Thụy Sĩ được Seiko mua lại để thành lập phân khúc thị trường đồng hồ điện tử sang trọng.

Năm 1983 - 1984

Seiko làm chủ công nghệ thạch anh và các đồng hồ chronograph cơ khí, Seiko đã tiếp tục cho ra mắt dòng đồng hồ World's First Analog Quartz Chronograph. Nó đo thời gian trôi qua đến 5/100 giây và cung cấp khả năng phân chia thời gian và có thể đo đo tốc độ di chuyển trên một quãng đường. Đặc biệt, đây là chiếc đồng hồ được nhà thiết kế xe hơi nổi tiếng của Ý - Giorgetto Giugiaro.

Năm 1984, sau khi giới thiệu chiếc đồng hồ World's First TV, thừa thắng xông lên, Seiko cho ra mắt đồng hồ đeo tay màn hình máy tính mà có thể lưu trữ dữ liệu. Chiếc đồng hồ này được ví như một cuốn nhật ký hoặc lịch trình vì nó có bộ nhớ lên đến 2,000 ký tự và có thể lưu trữ các số điện thoại và địa chỉ cũng. Chiếc đồng hồ này chính là tiền thân của của các thiết bị điện tử ngày nay.

Năm 1985

Seiko đã thành lập một nhà máy sản xuất đồng hồ thạch anh.

Kể từ khi tung ra chiếc đồng hồ thạch anh, Seiko vẫn cố gắng và nỗ lực để tạo ra những sản phẩm công nghệ mới như một chiếc “không thay đổi pin” để đem lại sự tiện dụng cho khách hàng. Năm 1977, đồng hồ chạy bằng năng lượng mặt trời và trong năm 1986, đồng hồ thạch anh lên dây cót bằng tay được ra đời.

Năm 1988

Thời điểm này đã đánh dấu bước đột phá lớn với Seiko bằng mẫu Seiko Kinetic - một chiếc đồng hồ có trọng lượng dao động, khi người đeo đồng hồ di chuyển năng lượng họ tạo ra sẽ được chuyển hóa thành điện năng. Chiếc đồng hồ Kinetic đã bán được hơn tám triệu chiếc tính đến năm 2007.

Năm 1990-1991

Tổng công ty Seiko được cải cách lại với những thay đổi rõ rệt và hiệu quả hơn. Mẫu đồng hồ SCUBA MASTER được tung ra thị trường ngay sau đó. Đây là mẫu đồng hồ được trang bị bộ cảm biến nước và cảm biến độ sâu, hiển thị thời gian lặn và chiều sâu – thông tin hữu ích cho các thợ lặn. Đây được coi là mẫu đồng hồ được thợ lặn ưa thích.

Tiếp đó, vào năm 1991, Seiko giới thiệu đồng hồ Millennium Plus Canlendar với chức năng lịch vạn liên tiện ích đặc biệt với người phương Đông.

Năm 1998 - 1999

Seiko tập trung vào sản xuất những chiếc đồng hồ thân thiện hơn với khách hang điển hình là mẫu đồng hồ PERPETUAL CALENDAR (có độ chính xác lên đến 20 giây/năm, tuổi thọ pin dài tới 10 năm và lịch vạn niên chính xác tới tận ngày 28 tháng 2 năm 2100, động cơ siêu âm của nó chuyển đổi ngày tháng chính xác và tức thời), mẫu đồng hồ THERMIC (có thể tạo ra năng lượng do cơ chế thay đổi nhiệt từ cổ tay với bầu khí quyển, có thể dự trữ pin khi đã được sạc đầy).

Năm 1999, Seiko cho ra mắt mẫu đồng hồ thiết kế độc đáo với cái tên SPRING DRIVE. Bên cạnh đó, mẫu đồng hồ này có độ chính xác rất cao với cơ cấu hồi truyền thống được thay thế bởi một bộ điều khiển bằng tay chuyển động nhẹ nhàng.

Seiko bước vào thế kỉ 21

Năm 2001, Seiko trở thành một công ty cổ phần và nó được đổi tên thành tổng công ty Tập Đoàn Seiko vào ngày 1 tháng 7 năm 2007.

Năm 2004, Seiko vinh dự nhận giải thưởng IEEE Milestone Award cho sự phát triển của đồng hồ thạch anh đầu tiên của thế giới với Seiko Quartz Astron. Đồng hồ này đã từng được triển lãm vào Giáng Sinh năm 1969 và chỉ được sản xuất 100 chiếc trên toàn thế giới.

Năm 2006, công ty này cho ra mắt chiếc đồng hồ sử dụng công nghệ mực điện tử đầu tiên, và đã vinh dự dành giải tại Grand Prix de Geneve.

Năm 2010, đồng hồ E-Ink Seiko đầu tiên được ra đời với màn hình hiển thị nhiều tiện ích, cho phép người dùng xem hình ảnh và dữ liệu trên mặt đồng hồ với 80.000 pixel, mỗi chức năng có 4 sắc thái khác nhau, cung cấp 300 dpi cho màn hình hiển thị. Đặc biệt, Seiko cũng cho ra mắt đồng hồ đặc biệt dành cho chuyến bay ngoài vũ trụ. Kết cấu bên trong và bên ngoài của chiếc đồng hồ Space Station được thực hiện hoàn hảo trong không gian. Nó đã vinh dự giành giải thưởng chiếc đồng hồ thể thao tại Grand Prix d'Horlogerie de Genève.

Năm 2012, Seiko tạo ra chiếc đồng hồ có thể nhận được tín hiệu GPS và xác định múi giờ, thời gian và dữ liệu ngày tháng sử dụng mạng lưới toàn cầu của các vệ tinh GPS. Nó có thể xác định được múi giờ tại 39 nơi khác nhau. Chiếc đồng hồ mang tính đột phá này chính là New Seiko Astron, tiền thân là chiếc đồng hồ thạch anh đầu tiên. Mẫu New Seiko Astron mở ra một thời đại mới của đồng hồ bấm giờ.

Hiện nay đồng hồ Seiko bao gồm rất nhiều dòng máy từ cấp thấp 4R1x và 4R3x tầm trung 6R, cao cấp 4S, siêu mỏng 68, cao cấp 8L/9s và bánh xe cột chronograph 6S và 8R được biết đến với độ tin cậy và độ chính xác cùng trong thời gian lưu trữ tương đối cao, đó là lý do tại sao những chiếc đồng hồ của thương hiệu này thường được sử dụng chính thức trong các sự kiện thể thao lớn và thế vận hội Olympic – một sự vinh dự dành cho công ty.

Ngày nay, thương hiệu này trở thành một thương hiệu toàn cầu, đồng hành với các khách hàng từ lặn xuống nước sâu đến leo trên đỉnh núi Everest. Bắt đầu từ những năm 1960, nhờ ưu thế kiểu dáng mới, chất lượng tốt, giá cả phải chăng, đồng hồ Seiko đã nhanh chóng chiếm được thị phần tương đối rộng lớn, vượt qua các thương hiệu đồng hồ Thuỵ Sỹ vốn chiếm lĩnh hơn 300 năm nay.
-----------------------------------

--------------------------------------------

----------------------------------------------------

Lịch sử thương hiệu đồng hồ Citizen - Tiên phong công nghệ

Nhắc đến đồng hồ Nhật, không thể không nhắc đến CITIZEN. Với người Nhật, CITIZEN không đơn thuần chỉ là một đề chế đồng hồ mạnh mẽ mà lịch sử thương hiệu đồng hồ CITIZEN còn ẩn chứa niềm tự hào của người Nhật.

Những chiếc đồng hồ đeo tay đầu tiên

Vào những năm 1880, Nhật Bản là một trong những đất nước nắm vững được kỹ thuật sản xuất đồng hồ treo tường nhưng đồng hồ bỏ túi lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Việc sản xuất đồng hồ đeo tay hàng loạt đòi hỏi kỹ thuật khó khăn hơn rất nhiều so với việc sản xuất đồng hồ thông thường. Những chiếc đồng hồ với những chi tiết máy phức tạp đòi hỏi phải có những máy móc và sử dụng những công cụ chuyên môn đặc biệt rất đắt và khó mua được ở Nhật thời bấy giờ.

Osaka Watch Inc là công ty Nhật đầu tiên đã nỗ lực sản xuất đồng hồ đeo tay. Họ đã nhập khẩu 2 thiết bị chế tạo đồng hồ từ Mỹ và thuê 8 chuyên gia người Mỹ cùng 2 chuyên gia người Anh. Năm 1895, chiếc đồng hồ bỏ túi đầu tiên của Nhật được sản xuất, nó được biết đến với tên gọi “đồng hồ Sakameri (như một sự kết hợp giữa “Osaka” và “American”). Nhưng lĩnh vực chế tạo đồng hồ thực sự là một thử thách lớn và công ty Osaka đã đóng cửa vào năm 1902. Nippon Pocket Watch Manufacturing, một công ty khác bắt đầu chế tạo đồng hồ vào cuối những năm 1890, cũng đã chịu chung số phận.

Đại Chiến Thế Giới lần thứ nhất là bước ngoặt lớn đối với ngành sản xuất đồng hồ tại Nhật. Kinh tế Nhật phát triển, tầng lớp trung lưu gia tăng và nhu cầu với những chiếc đồng hồ đeo tay thể hiện đẳng cấp cũng theo đó mà gia tăng. Nhìn thấy lợi nhuận tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất đồng hồ, nhiều công ty đã nghiên cứu và gia nhập thị trường mới mẻ này.  Trong số những công ty mới tham gia thị trường này có nhà máy Shokosha của Kamekichi Yamazaki - một trong số những doanh nhân sản xuất đồng hồ treo tường với số lượng nhiều tại Nhật thời bấy giờ. Tuy nhiên, vào thời đó, thị trường đồng hồ Nhật Bản bị thao túng bởi các hãng đồng hồ ngoại quốc, chủ yếu là các công ty của Thụy Sỹ, tiếp sau là của Mỹ như Waltham và Elgin.

Tinh thần người Nhật, quyết không chịu khuất phục, Yamazaki cảm thấy đã đến lúc phải bắt đầu sản xuất những chiếc đồng hồ được chế tạo trong nước có giá thành thấp hơn hàng nhập khẩu. Đến năm 1918, Yamazaki đã thành lập Viện Nghiên Cứu Đồng Hồ Shokosha tại quận Totsuka ở thủ đô Tokyo. Sử dụng các thiết bị máy móc của Thụy Sỹ, Yamazaki và các cộng sự đã bắt đầu thử nghiệm sản xuất những chiếc đồng hồ bỏ túi.

Vượt mặt đối thủ nặng ký

Năm 1923, một cuộc thi đồng hồ bỏ túi đã diễn ra tại Hội chợ Triển lãm Tưởng niệm hòa bình tại Tokyo. Những chiếc đồng hồ bỏ túi của hai nhà sản xuất Nhật Bản là Seikosha (SEIKO) và Shokosha (CITIZEN) đã đấu với những chiếc đồng hồ bỏ túi của hai nhà sản xuất ngoại quốc, một từ Thụy Sỹ là Nardin Chronometer, và một từ Hoa Kỳ là Waltham. Thời điểm đó, Seikosha  có 27 năm sản xuất đồng hồ và là thương hiệu đồng hồ đeo tay hàng đầu Nhật Bản. Trong khi đó, Shokosha (CITIZEN) chỉ mới xuất hiện có 5 năm và còn chưa bán ra thị trường một chiếc đồng hồ nào. Những chiếc đồng hồ Nhật Bản đã bị đánh bại hoàn toàn bởi các đối thủ ngoại quốc, điều này không có gì ngạc nhiên bởi Thụy Sỹ và Mỹ đã vượt xa hơn nhiều so với Nhật Bản về công nghệ đồng hồ đeo tay tại thời điểm đó. Điều ngạc nhiên là CITIZEN đã vượt lên trên cả ông lớn Seikosha. Khi so sánh những sản phẩm của Seikosha với những chiếc đồng hồ bỏ túi của đối thủ mới CITIZEN, rõ ràng là kỹ thuật và khả năng sản xuất của Seikosha không phải là đã cao hơn

Đây thực sự là một tín hiệu tốt. Những chiếc đồng hồ mới của CITIZEN là những đứa trẻ mới xuất hiện, vẫn còn đang trong quá trình phát triển, mà chúng đã có thể đứng vững trong các bài kiểm tra để đấu với sản phẩm của công ty đồng hồ hàng đầu Nhật Bản. Chiếc đồng hồ bỏ túi đầu tiên sử dụng loại máy Caliber 16 của CITIZEN bắt đầu được bán ra thị trường 1 năm sau đó. Ý nghĩa của cái tên này là hy vọng rằng mọi người dân sẽ được hưởng lợi và yêu thích những chiếc đồng hồ được phát triển bởi Viện Nghiên Cứu Đồng Hồ Shokosha.

Những chiếc đồng hồ mang tên CITIZEN

Năm 1930, Viện Nghiên Cứu Shokosha mở rộng thành một công ty đồng hồ với đầy đủ các chức năng với cái tên CITIZEN Watch Co. Ltd, và một vị chủ tịch mới, ông Yosaburo Nakajima. Kể từ đó, công ty bắt đầu nổi lên như một nhà sản xuất đồng hồ nổi tiếng. Năm 1931, công ty bắt đầu sản xuất hàng loạt đồng hồ đeo tay, đưa dòng máy F Caliber 10 line, lên dây bằng tay, vào trong vỏ máy có hình dáng tròn hoặc hình thùng. Năm 1935, công ty giới thiệu dòng máy 8 line K Caliber và đến năm sau, CITIZEN mở nhà máy Tanashi ở Tokyo và nhà máy này vẫn tiếp tục là nơi sản xuất chính của hãng cho tới ngày nay. Vào tháng 7/1936, khi khả năng sản xuất tăng cao, CITIZEN bắt đầu xuất khẩu tới khu vực Đông Nam Á và vùng Nam Thái Bình Dương. Những năm 30 đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng của CITIZEN và ngành sản xuất đồng hồ Nhật Bản khi nền tảng đã trở nên vững chắc. Năm 1939, tổng sản lượng đồng hồ Nhật Bản sản xuất được đã vượt quá con số 5 triệu chiếc lần đầu tiên.

 

Chiến tranh Thế giới lần thứ hai đã gây nên sự ngưng trệ nghiêm trọng đối với các thế lực sản xuất đồng hồ trên khắp thế giới, trừ Thụy Sỹ. Trong thời gian chiến tranh, CITIZEN mở một nhà máy ở vùng Nagano thuộc Alps. Trong vòng 2 thập kỷ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, CITIZEN đã gieo những hạt giống để công ty sau này có thể trở thành một thế lực trong ngành công nghiệp đồng hồ thế giới.

Đế chế Yamada

Vào tháng 3/1946, Eiichi Yamada trở thành tổng giám đốc của CITIZEN khi mới 38 tuổi và đã liên tục giữ chức vụ này trong 35 năm.  Đây chính là một trong giai đoạn hoàng kim trong sự phát triển của CITIZEN – được biết đến như đế chế Yamada. Với tư tưởng đổi mới, Yamada hiểu rằng tương lai của CITIZEN nằm ở việc mở rộng thị trường ra nước ngoài. Năm 1949, ông đã thành lập một công ty con chuyên kinh doanh và marketing có tên là CITIZEN Trading Company.

Năm 1950, CITIZEN tiếp tục phát triển các công nghệ đồng hồ mình, cố gắng thu hẹp khoảng cách với các công ty Thụy Sỹ vốn lúc đó đã đạt tới vị trí còn vững chắc hơn. CITIZEN đã cho thấy sự tiến bộ ngày càng tăng của mình trong lĩnh vực sản xuất đồng hồ bằng một loạt các mẫu đồng hồ có tính đột phá đối với ngành sản xuất đồng hồ Nhật Bản.

Mùa hè năm 1956, CITIZEN đã thực hiện một loạt các buổi ra mắt giới thiệu một chiếc đồng hồ chống va đập Parashock. Điều này đã mang lại một cảm xúc mạnh mẽ tại Nhật Bản. Sau đó, CITIZEN cũng thực hiện buổi ra mắt thành công với mẫu Parawater, một mẫu đồng hồ chịu nước.

Vào năm 1958, CITIZEN giới thiệu CITIZEN Alarm, chiếc đồng hồ đeo tay có chức năng báo thức đầu tiên của Nhật Bản. Chiếc đồng hồ này được trang bị loại máy Caliber A-980 lên dây bằng tay, CITIZEN Alarm có thêm vương miện thứ hai dùng để đặt giờ báo thức và một đĩa nhắc nằm ở trung tâm mặt đồng hồ. Cùng năm đó, CITIZEN cũng giới thiệu máy đồng hồ tự động đầu tiên của công ty, máy Caliber 3 KA với 21 viên đá quý.

Xây dựng đế chế toàn cầu CITIZEN với đồng hồ điện tử

Trong vòng 7 năm từ 1958 tới 1965, CITIZEN đã đặt nền móng cho đế chế toàn cầu của mình. CITIZEN bắt đầu xuất khẩu đồng hồ sang Trung Quốc vào năm 1958. Năm 1960, CITIZEN bắt đầu thỏa thuận hợp tác hỗ trợ kỹ thuật với Ấn Độ để đưa ngành công nghiệp sản xuất đồng hồ tới đất nước này. Vào tháng 3/1960, CITIZEN bắt đầu thực hiện thỏa thuận xuất nhập khẩu với Bulova Watch Company của Hoa Kỳ. Năm 1965, CITIZEN đã mở một văn phòng tại Đức và bắt đầu xuất khẩu đồng hồ qui mô lớn tới thị trường các nước châu Âu.

Năm 1964, CITIZEN mở cửa phòng thử nghiệm kỹ thuật Tokorozawa, một cơ sở nghiên cứu và phát triển dành riêng cho loại đồng hồ điện tử. Trong vòng 2 năm, công ty này bắt đầu sản xuất dòng đồng hồ điện tử X-8 và được bán ra thị trường vào tháng 3/1966 – đây là chiếc đồng hồ điện tử đầu tiên của Nhật Bản. Đồng hồ này sử dụng pin oxide bạc và dùng máy Caliber 0800-25J. Nó có thể chạy suốt một năm không nghỉ. Trong một thời đại bị thống trị bởi đồng hồ cơ tự động, đây thực sự là một bước tiến lớn. Tiếp sau X-8, CITIZEN tiếp tục giới thiệu máy đồng hồ X-8 Cosmotron vào năm 1967 với bộ phận tranzito với 4 nam châm và 2 cuộn dây cuốn cố định. CITIZEN đã bán loại máy này cho khoảng 20 công ty nước ngoài.

Dòng máy X-8 đáng chú ý bởi nó là một trong những sáng chế đầu tiên trên thế giới của CITIZEN. Tháng 5/1970, CITIZEN đã tung ra loại máy X-8 được đặt trong vỏ bằng Titanium. Đây là chiếc đồng hồ đầu tiên trên thế giới có vỏ làm bằng Titanium. Công ty đã đi đầu trong việc sử dụng kim loại bền, nhẹ vào sản xuất đồng hồ và trở thành nhà sản xuất đồng hồ Titanium lớn nhất thế giới.

Những chiếc đồng hồ Quartz

Năm 1973, CITIZEN bước chân thời đại đồng hồ Quartz với mẫu đồng hồ CITIZEN Quartz Crystron, chiếc đồng hồ máy Quartz hiển thị giờ bằng các kim giờ, phút, giây đầu tiên. Chiếc đồng hồ điện tử kỹ thuật số đầu tiên Quartz Crystron LC xuất hiện vào năm 1974. Đây là chiếc đồng hồ đầu tiên sử dụng màn hình tinh thể lỏng (LCD) để hiển thị thứ, ngày và giờ. Phiên bản dành cho nữ cũng là chiếc đồng hồ dành cho nữ sử dụng màn hình LCD đầu tiên.

10 năm đầu tư vào công nghệ đồng hồ điện tử của CITIZEN mà bắt đầu bằng phòng thử nghiệm kỹ thuật Tokorozawa đã bắt đầu cho kết quả. Trong 7 năm tiếp theo, từ 1975 tới 1981, cứ mỗi năm, CITIZEN lại giới thiệu một mẫu đồng hồ có công nghệ đột phá đầu tiên trên thế giới. Giai đoạn này càng củng cố thêm vị trí của CITIZEN như một công ty sản xuất đồng hồ hàng đầu thế giới.

Năm 1974, CITIZEN đã phát triển mẫu đồng hồ năng lượng mặt trời hiển thị Analog đầu tiên. Tuy nhiên, loại Pin Cadmium quá đắt đỏ để có thể sản xuất thương mại. Tuy nhiên các kỹ sư của CITIZEN vẫn tiếp tục nghiên cứu và chuyển sang thay thế bằng loại pin Oxide bạc.

Tháng 12/1975 khi CITIZEN tung ra chiếc đồng hồ chính xác nhất vào thời kỳ đó với độ sai lệch giờ chỉ khoảng 3 giây/năm. Mega là một cái tên rất chính xác. CITIZEN chỉ sản xuất một số lượng hạn chế đồng hồ với vỏ và dây bằng vàng với giá bán lẻ lên tới 4.5 triệu yên Nhật một chiếc. Đồng hồ Mega không còn nghi ngờ là bằng chứng không thể tranh cãi chứng minh rằng CITIZEN và Nhật Bản đã tiến lên dẫn đầu về công nghệ đồng hồ.

Năm 1976, CITIZEN tung ra đồng hồ Crystron Solar Cell, đồng hồ Quartz hiển thị analog dùng năng lượng mặt trời đầu tiên trên thế giới độ sai lệch dưới 15 giây/tháng. Giá bán lẻ của đồng hồ này là 45.000¥.

Năm 1978, CITIZEN bắt đầu cái mà sau này được biết đến là “cuộc chiến đồng hồ mỏng” với mẫu đồng hồ CITIZEN Exceed Gold, còn được biết đến CITIZEN Quartz 790. Đồng hồ này sở hữu máy đồng hồ đầu tiên trên thế giới có độ dầy nhỏ hơn 1mm. Sản phẩm của phòng nghiên cứu và phát triển của CITIZEN có kích thước đo được như sau: 23.7mm x 20.0mm x 0.98mm. Máy đồng hồ mỏng cho phép CITIZEN sử dụng vỏ máy mỏng. Toàn bộ đồng hồ có độ dày chỉ 4.1mm